Menu
THÔNG BÁO
Hỗ trợ trực tuyến
Lê Đình Đức
Lê Đình Đức
Phạm Xuân Cường
Phạm Xuân Cường
Developed
Thống kê truy cập
Số người đang online: 189
Số lượt truy cập: 38326202

Quảng cáo
HÌNH ẢNH NGƯỜI THẦY TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM 11/16/2010 10:24:45 PM
Tục ngữ, ca dao nước ta rất đa dạng, phong phú và ý vị. Có thể nói đó là “túi khôn” hay cũng có thể nói đó là hơi thở, là dòng chảy tâm hồn của của người lao động xưa. Dường như, mọi niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc hay khổ đau, mọi đường ăn, nết ở, mọi phép tắc ứng xử của người xưa đều được phản ánh một cách cô động trong ca dao, tục ngữ. Vì vậy, khi muốn tìm hiểu một vấn đề, một khía cạnh nào đó trong xã hội xưa, chúng ta hoàn toàn có thể tìm ở “túi khôn”, ở “mạch ngầm hơi thở” ấy!

          Trong dòng chảy nô nức của tháng Mười một, cả nước đang hướng về ngày Nhà giáo Việt Nam, chúng ta thử cùng nhau tìm lại hình ảnh người thầy giáo trong xã hội cũ qua những câu tục ngữ, ca dao - sản phẩm tinh thần, trí tuệ của người lao động xưa.

          Người thầy trong xã hội xưa có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với nhân dân. Dù chỉ là một ông giáo làng bình thường, không sang giàu, không quyền cao chức trọng nhưng người ta vẫn rất mực tôn trọng, kính nể như một ông quan:

“Thầy làng không sang cũng trọng

Quan huyện  không lộng cũng xe”

          Không giàu về vật chất, không sang về địa vị , song người thầy giáo có cả một “gia tài” không phải ai cũng dễ dàng có được. Đó là tri thức, là hiểu biết, là kỉ cương. Làm chủ được những thứ ấy mới làm được thầy:

“ Sách vở một rương, kỉ cương một tủ mới đủ làm thầy”

          Bởi thế, người ta tôn trọng, nể phục người thầy cũng là điều dễ hiểu. Và, đặc biệt, người thầy được tôn trọng, được kính nể không chỉ vì thầy có tri thức, có kỉ cương mẫu mực mà quan trọng hơn, người thầy đã dùng tri thức  và kỉ cương của mình để  dạy dỗ, dìu dắt, uốn nắn bao thế hệ học trò nên người. Tục ngữ từng khẳng định:

“Không thầy đố mày làm nên”

          Đối với mỗi người học trò, cho dù có thông minh, tài giỏi đến đâu cũng không thể tự mình tiếp cận với vốn tri thức vô tận của nhân loại mà không cần đến sự dìu dắt, định hướng của người thầy. Là người bình thường hay vĩ nhân thì sự trưởng thành của họ đều có bàn tay dạy bảo, dìu dắt của người thầy:

“Mấy ai là kẻ không thầy

Thế gian thường nói đố mày làm nên”

          Hẳn chúng ta đều biết rằng, mỗi con người không phải tự nhiên được sinh ra, tự nhiên lớn lên và trưởng thành mà luôn được sự chăm sóc, chở che, dạy dỗ của nhiều người. Lúc còn nhỏ, ta chịu công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha cao “như núi Thái Sơn”, của mẹ mênh mông “như nước trong nguồn chảy ra”. Lúc đến trường học thì người gẫn gũi, chỉ bảo, uốn nắn cho ta, không ai khác, chính là người thầy:

“Mẹ cha công sức sinh thành

Ra trường thầy dạy học hành cho hay”

Hay:               

“Cơm cha, áo mẹ chữ thầy

Gắng công mà học có ngày thành danh”

          Rõ ràng, người xưa đã đặt người thầy ngang hàng với đấng sinh thành ra mình. Bởi vì, cơm, áo và chữ đều quan trọng. Cha mẹ cho con cơm để ăn no, áo để mặc ấm thì người thầy cho con tri thức để hiểu biết, để làm chủ được cuộc đời.

          Người thầy không chỉ dạy trò biết chữ mà còn dạy trò biết bao điều hay lẽ phải, biết sống đúng đạo lý ở đời. Người học trò không chỉ được học chữ, học hiểu biết mà còn nhận được ở thầy sự quan tâm, săn sóc ân cần. Vì vậy trong lòng mỗi người học trò luôn ghi nhớ công ơn dạy dỗ của thầy:

“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”

(Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy)

Hoặc:

“Nhất nhật vi sư”

(Một ngày cũng là thầy )

          Thế mới biết, nhân dân ta đã coi trọng người thầy và nghề dạy học  đến mức nào. Không chỉ có học trò kính yêu, tôn trọng thầy giáo mà xã hội nói chung đều nhận thức được vai trò quan trọng của người thầy. Hãy lắng nghe lời của người mẹ ru con trong bài ca dao sau:

“Bồng bồng mẹ bế con sang

Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo

Muốn sang thì bắc cầu kiều

Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”

          Lời ru của người mẹ vừa thở than, kể lể về hoàn cảnh, số phận nghèo khó, lận đận của đời mình; đồng thời vừa cất lên lời khẳng định gần như chắc chắn: muốn sang ( qua) bên kia sông mà không có đò (Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo) thì chỉ có cách duy nhất là phải bắc cầu. Cũng như việc muốn con hay chữ thì nhất định phải yêu quý thầy giáo!

          Có thể nói, người dân xưa đã luôn đề cao vai trò của người thầy trong cuộc đời mỗi con người. Quan hệ thầy trò đã trở nên vừa gần gũi vừa thiêng liêng như tình cha con:

“Gươm vàng rớt xuống hồ Tây

Công cha cũng nặng, nghĩa thầy cũng sâu”

          Mỗi người ngoài việc phải sống có hiếu với cha thì còn phải sống có nghĩa với thầy. Mỗi năm khi tết đến, xuân về, vào các dịp hội lễ, học trò đến thăm hỏi thầy giáo đã trở thành nét đẹp trong văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt:

“Mồng một thì ở nhà cha

Mồng hai nhà mẹ, mồng ba nhà thầy”

          Rõ ràng, thầy là người “thân như ruột thịt”, “nghĩa tựa cha con”.

          Để được trò kính như cha, bản thân người thầy giáo không chỉ có chữ mà còn phải là người có tình thương, trách nhiệm. Thầy gần gũi, quan tâm trò nên hiểu trò như cha hiểu con, như vợ hiểu chồng:

“Thầy hay trò, cha hay con, vợ hay chồng”

          Thầy dạy trò không chỉ bằng trách nhiệm mà bằng cả tình thương như mẹ cha thương con, thực sự mong muốn cho học trò thành đạt:

“Mẹ muốn con hay, thầy muốn trò giỏi”

          Người thầy còn mang cả những trăn trở, lo lắng của xã hội vào trong cuộc sống của mình. Trăn trở trước cảnh học trò không có cơ hội đến trường:

“Còn trời còn nước còn non

Còn người thất học ta còn phải lo”

          Hình ảnh người thầy cũng như những tình cảm yêu kính của nhân dân đối với người thầy được thể hiện qua ca dao, tục ngữ chiếm một bộ phận không nhỏ trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam. Điều đó cho thấy, người thầy có một ảnh hưởng khá lớn trong đời sống của mỗi người nói riêng và với xã hội nói chung. Bằng những câu ca dao, tục ngữ nhẹ nhàng, ngắn gọn, dễ nhớ, người lao động bên cạnh ngợi ca hình ảnh người thầy, họ còn thể hiện tình yêu thương, kính trọng thầy; đồng thời nhắc nhở nhau phải kính thầy cho đúng nghĩa của người học trò:

“Kính thầy mới được làm thầy

Những phường bội nghĩa sau này ra chi”

          Tình cảm thầy trò đã trở thành thứ tình cảm gắn bó, gần gũi một cách tự nhiên mà vô cùng thiêng liêng, cao cả, làm nên truyền thống đẹp đẽ của dân tộc: truyền thống Tôn sư trọng đạo. Truyền thống ấy như mạch nước ngầm, như sợi chỉ đỏ xuyên suốt thời gian từ xưa cho đến nay và mãi mãi về sau.

          Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Nghề thầy giáo là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý - Vì đó là những kĩ sư tâm hồn”. Vâng, chúng ta không thể không thừa nhận vai trò đặc biệt quan trọng của người thầy giáo trong việc truyền thụ kiến thức cho nhân loại - dù đó là chế độ xã hội nào. Đặc biệt, với thời đại của chúng ta, thời đại của tri thức thì vai trò của người thầy càng trở nên quan trọng.

          Ngày nay, trước ngưỡng cửa của hội nhập, của cơ chế thị trường, thỉnh thoảng ở đâu đó chúng ta có nghe đề cập đến hiện tượng vi phạm đạo đức nhà giáo của một số thầy cô giáo. Đó là một sự thật đáng buồn. Song, may mắn thay, đó chỉ là những hiện tượng cá biệt, không phổ biến. Chúng ta dễ dàng tìm thấy ở bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam, những tấm gương thầy giáo ngày đêm miệt mài bám trường, bám lớp vì học sinh thân yêu. Truyền thống tôn sư trọng đạo và niềm tin của nhân dân vào người thầy đã, đang và sẽ tiếp tục được bồi đắp, giữ vững. Và người thầy giáo xưa cũng như người thầy của hôm nay mãi mãi xững đáng là những “ kĩ sư tâm hồn” đi “ươm mầm”, “gieo hạt giống đẹp” cho tương lai của Tổ quốc.

Dương Thủy, tháng 11/ 2010

Hải Sinh

(Đỗ Thị Hải - Trường THCS Dương Thủy)






Tìm kiếm
Đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Bài viết mới nhất
Hình ảnh
Liên kết website

Quảng cáo

BẢN QUYỀN THUỘC VỀ PHÒNG GD VÀ ĐT LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 052.3882625 - Email:banbientap@lethuy.edu.vn
Developed by Phạm Xuân Cường - ĐT: 0912.037911 - Email: cuonggiaoduc@yahoo.com