Menu
THÔNG BÁO
Hỗ trợ trực tuyến
Lê Đình Đức
Lê Đình Đức
Admin
Phạm Xuân Cường
Phạm Xuân Cường
Developed
Thống kê truy cập
Số người đang online: 259
Số lượt truy cập: 58598186

Quảng cáo
CÁC GƯƠNG MẶT THƠ TIÊU BIỂU, MỘT NĂM NHÌN LẠI 05/01/2010 3:51:46 CH
Ngô Mậu Tình

Mộc trung nguyên hữu hỏa

Nguyên hỏa phục hoàn sinh

Nhược vị mộc vô hỏa

Toàn toại hà do minh.

Tạm dịch:

Lửa sẵn có trong cây

Vơi đi chốc lại đầy

Ví cây không có lửa

Xát lửa sao bùng ngay.

Tôi không có ý bàn về bài thơ này của thiền sư  Khuông Việt nhưng tác phẩm làm cho tôi ngộ ra một điều thật giản dị: Lửa bao giờ cũng có sẵn trong cây. Vấn đề ở chỗ ai là người xát để cháy thành ngọn lửa sưởi ấm cho tâm hồn. Nhân trang web của ngành tròn một năm tuổi, xin bàn về ngọn lửa văn chương của cán bộ giáo viên trong toàn huyện và gửi lời tri ân sâu sắc đến những người đã và đang giữ cho ngọn lửa ấy luôn bừng sáng.

Còn nhớ cách đây không lâu trước khi chưa có website Phòng giáo dục Lệ Thủy trên mạng thì đại đa số những trang văn, bài thơ của giáo viên thuộc ba cấp học thường nằm ở góc khuất trong tâm hồn. Một số tác giả thỉnh thoảng cho đăng ở các báo trung ương và địa phương. Nhìn chung, văn chương đang là địa hạt của những cây bút chuyên nghiệp.

Nhiều người cho đến nay vẫn không thể hình dung được sức viết và sợi dây thần kinh mỏng mảnh của các thầy cô giáo. Họ lặng lẽ như những dòng nước mang nặng phù sa đến với đời qua những lời gửi gắm, nhắn nhủ và sự chiêm nghiệm nghề nghiệp cùng bầy em thơ. Tất cả sản phẩm văn chương của các tác giả đang đứng lớp thực hiện sứ mệnh thiêng liêng của nghề giáo và toát lên sự trong sáng, chân thành, cùng một tình yêu sâu nặng với cuộc đời.

Thơ họ không cầu kỳ, hình thức nhưng có chiều hướng bộc lộ sự sáng tạo khá độc đáo. Năng lượng thơ đạt đến sự chín muồi về nhận thức nên thơ không bị gò bó về con chữ. Toát lên ở các bài thơ mà BBT đã đăng là sự tràn đầy về mặt cảm xúc. Tình cảm đã phá vỡ mọi khuôn phép của việc làm thơ. Thơ ở trang web chúng ta được đọc là những bài thơ hình như viết ra bằng xúc cảm mạnh được dồn nén từ lâu. Nó như chiếc lò xo bị nén chặt và đã bung nổ khi được trao cơ hội.

 

Đó là giọng thơ đầy nhiệt huyết của cô giáo Đỗ Thị Lý với biết bao trở trăn nghĩ ngợi. Đọc nhiều bài thơ của Cô, tôi hiểu, nếu không được cầm bút chắc người giáo viên này không thể có một cuộc sống vẹn tròn, ý nghĩa. Bởi qua thơ, Cô đã thổ lộ điều thiêng liêng từ đáy tâm hồn qua việc ngắm nghía giáo án của đồng nghiệp ngày hôm nay:"Ngắm giáo án của em, lòng tôi cứ bồi hồi/Nhớ về một thời quá khứ/Bút Hồng Hà, mực Cửu Long cùng trang sách mở/Bên ánh đèn khuya, sánh duyên thành giáo án, em ơi!/Những dòng chữ thêu hoa cho cuộc đời/Từ bàn tay miệt mài của bao thế hệ thầy cô giáo/Những dòng chữ in hằn trăn trở, nghĩ suy cùng những lời dạy bảo/Nâng bao cánh chim học trò tung bay khắp nơi nơi/  (Nghĩ về những trang giáo án - Đỗ Thị Lý)

Dù là giáo án chép tay ngày xưa hay những trang in đầy "trăn trở" và " nghĩ suy" ngày hôm nay thì đều đẹp, do hồn người luôn lấp đầy trang giấy, kết từ " Tình yêu thương vô hạn".

Vẫn giọng thơ ấy, nhưng lúc nào tác giả cũng không che dấu được cảm xúc. Đọc thơ của cô Đỗ Thị Lý chúng ta dễ dàng thấy một điều, có gì cô viết vậy, nghĩ gì cô sẽ ghi lại theo mạch tình cảm. Cho nên, thơ của tác giả thường dài. Thật may, người viết chắc tay nên thơ không rơi vào dễ dãi. Bài " Tiếng trống trường" là một trường hợp tiêu biểu: "Nhớ không em, buổi khai trường đầu /Chúng mình là những học sinh lớp một/Bỡ ngỡ, tự hào, mừng vui, hồi hộp/Khi lần đầu nghe tiếng trống khai trường./Tuổi thơ trôi qua, bao kỷ niệm vấn vương/Tiếng trống khai trường in sâu vào ký ức/Cái âm thanh rộn ràng, náo nức/Theo chúng mình đi tới tương lai." ( Tiếng trống trường - Đỗ Thị Lý)

Nếu không có cái âm thanh"rộn ràng", " náo nức" ấy thì kỷ niệm thời thơ ấu làm gì có chuyện " bỡ ngỡ", "tự hào", "mừng vui", "hồi hộp". Thế là đủ cho một bài thơ.

Trên thế mạnh của mình tác giả đã thành công trong bài " Lời ru của mẹ". Bằng những chất liệu dân gian có sẵn, cô giáo đã phả vào đó lời nhắn nhủ thật cảm động qua một điệu ru thấm thía nghĩa tình. Có lẽ, đây là bài thơ có độ dày cần thiết để tác giả có thể sống chung với thơ trong thời gian dài dài nữa. Tôi tin là vậy:

"Mẹ ẵm con và cất giọng à ơi...

Trong lời mẹ có cánh cò, cánh vạc

Có sân đình, cây đa, con đò, bến nước

Con biết yêu quê hương từ câu hát tuổi thơ.

 

Mẹ bế con và cất giọng à ơ...

Trong lời mẹ rạch ròi yêu, ghét

"Cau sáu bửa ba" nếu yêu thương, đoàn kết

"Bửa làm mười"... đừng nên vậy nghe con!

(Lời ru của mẹ- Đỗ Thị Lý)

Rõ ràng, bài thơ đã tiệm cận đến độ sâu lắng khôn nguôi và bùng nổ ngòi xúc cảm thật mạnh mẽ. Hình ảnh sân đình, cây đa, bến nước, con đò gắn liền với miền nông thôn cổ kính. Và thật hay khi tác giả đã đưa vào đây điệu ru con " à ơi..." để trao gửi sự trăn trở cho con và cũng cho bạn đọc về điều ở ăn trên đời. Rất nhẹ nhàng, kín đáo và từng trải. Riêng tôi, bài thơ này tôi thuộc lòng và thường ru con khi cháu khóc quấy. Điều thú vị là khi nghe tôi ngâm ngợi ,cháu như nghe, như hiểu. Sức mạnh thơ ca quả thật là vô hình, khó lý giải.

          Khác với thơ giọng thơ trên, cô giáo Hồ Thị Anh Thư và thầy giáo đã nghỉ hưu Vĩnh Hằng lại có nét tài tử, lảng đảng phiêu bồng của người nghệ sĩ. Hai tác giả này không mạnh về lập tứ nhưng bù lại có những phát hiện rất tinh tế, tài hoa. Thơ họ là sự vận động của hình tượng thẩm mỹ được khúc chiếu qua cảm quan đầy sáng tạo. Nhiều người hỏi tôi thơ hai tác giả này có cái gì đó giống với cây bút tài năng Phan Thị Vàng Anh, Châu Thị Loan của văn học hiện đại Việt Nam. Tôi trả lời rất đúng vì hai tác giả này đã thoát ly hẳn lối tư duy làm thơ cũ và đã lột xác thành những vũ công trên địa hạt thơ ca.

          Thầy giáo Vĩnh Hằng chia tay bạn hữu sau gần 30 năm làm nghề gõ đầu trẻ bằng cách nói chia tay mùa thu. Tại sao lại là mùa thu chứ không phải là mùa nào khác! Mùa thu là mùa khai trường. Thầy muốn tổng kết lại cuộc đời cầm phấn của mình cũng vào những ngày bắt đầu nghề nghiệp thì còn gì bằng. Thì ra cái bắt đầu cũng là cái kết thúc và ngược lại. Bài thơ triết lý nhưng đọc xong người đọc thấy nhẹ tênh nỗi niềm trống vắng. Nào ai biết trái tim Thầy đang run rẩy :

Chia tay nhé

                    nhưng xin đừng xa cách

Lặng thầm thôi

                   kẻo day dứt mùa thu

Nắng thu vàng

                   buông ngàn sợi dây tơ

Gió thu gẩy

                   khúc tình thu ly biệt

Trời vẫn thế

                   nắng trời vẫn thế...

Sân trường vẫn ồn ào

sao vắng bóng người thương?...

          (Chia tay mùa thu - Vĩnh Hằng)

Với độ rơi của các vế câu như vậy, lời thơ như ngắt quảng, nghẹn ngào không nói ra được điều thầm kín. Mà nói làm gì nữa khi tác giả đang cố nghe gió thu gẩy, nhìn nắng vàng rơi, còn bờ môi thì lặng thầm vì sợ " day dứt mùa thu"!

Cũng viết về chủ đề này nhưng trong " Lãng mạn mùa thu" của Hồ Thị Anh Thư thì mùa thu được dàn đều ngón thời gian theo 6 cung bậc cảm xúc, vận động từ: nuối tiếc, hy vọng, trĩu nặng, quyến luyến, sáng ngời, đến  lãng mạn. Trái tim thơ dường như chạm được vào mùa thu nên tứ thơ vì thế khó nhận ra. Bài này không phải chắc về lập tứ nhưng đổi lại là sự mơ màng khó lý giải. Điều này, tác giả đã thừa nhận ngay từ câu thơ đầu:

                           

Anh hỏi em sao lãng mạn

Một chiếc lá rời cành cũng nuối tiếc...

Mùa thu

(Lãng mạn mùa thu - Hồ Thị Anh Thư)

Trong mắt anh, em là người lãng mạn. Mà lãng mạn là điều tốt chứ sao. Chính nhờ nó mà tình yêu nghề nghiệp, tình yêu dành cho anh càng tha thiết. Cô gái trữ tình trong bài thơ hiện lên thật đáng yêu. Tôi mong một ngày được gặp mặt để có thể chiêm ngắm người có đôi mắt hồ thu ấy:

                                Anh thấy đây,

                          trong mắt em cười

                     Có giọt nắng mơ màng,

                          hoa cúc vàng sắc nắng

                     Anh thấy đây,

                    lòng em trĩu nặng

                     Chan chứa tình yêu  tha thiết vô bờ!

(Lãng mạn mùa thu - Hồ Thị Anh Thư)

Trên là những tác giả tiêu biểu với nhiều bài thơ nồng hậu chân chất tình đời. Họ là những giáo viên tiểu học. Nàng thơ đến với họ một cách tự nhiên không cầu kỳ tính toán. Họ viết thơ nhằm ghi lại những xúc cảm dào dạt chợt đến.

Trang web chúng ta được làm đẹp thêm bằng nhiều bài thơ của các thầy cô giáo dạy văn, nên thơ ở mục văn học nghệ thuật đa phong cách, phong phú về thể loại, cơ bản phù hợp với tạng văn chương của nhiều người. Tiến sĩ Ngữ văn Trần Thị Phương Thảo trường đại học Quảng Bình đánh giá " Hình như mỗi giáo viên Lệ Thủy là một nhà thơ thì phải. Trong mỗi người đứng lớp đều có hai tư cách: nhà giáo - nhà thơ. Chả trách văn chương Lệ Thủy ngày một khoe sắc".

Các thầy cô giáo là những nghệ sĩ ấy phải kể đến thầy Nguyễn Khắc Chi chuyên viên phòng giáo dục với " Bài thơ tình viết từ ngã ba sông". Trong bài " Người là hoa của đất" tôi đã có dịp giới thiệu cùng bạn đọc về bài thơ này. Nhưng một điều tôi chưa nói hết, đó là hình ảnh cánh cò chấp chới trong câu hát hò khoan đã nâng nhịp bay lên qua lối thơ trùng điệp kiểu Maia - cốp - xky tạo nên hiệu quả thẩm mỹ đặc sắc. Từng đàn cò bay ra trong bài thơ này như cái tình lớn của người nghệ sĩ dành cho mảnh đất " Chỉ có hai mùa" . Thơ hay là vậy. Cao hơn người làm thơ là một giáo viên kỳ cựu. Đây là nốt thăng trong vườn thơ ngát hương của chúng ta.

Qua bài thơ của thầy giáo Nguyễn Khắc Chi tôi xin tản mạn về công việc "bếp núc" của người dạy văn.Đó là một công việc mang đầy tính sáng tạo - một sự “đồng sáng tạo” với tác giả và văn bản. Dạy văn còn là niềm đam mê của những người yêu thích bộ môn Văn. Đó là niềm say mê tìm tòi, suy ngẫm về cái hay, cái đẹp của một áng văn, một bài thơ. Nó đáp ứng được nhu cầu thưởng thức nghệ thuật, và mang lại cho người dạy những khoái cảm thẩm mỹ.

Ngoài năng lực cảm thụ văn chương, người dạy văn cần có một vốn sống thực tế phong phú cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Đó là một yêu cầu, một đòi hỏi bức thiết của bộ môn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Vốn sống là kho kinh nghiệm quý báu về cuộc sống của một con người. Nó được tích luỹ, trải nghiệm và chiêm nghiệm sâu sắc; biến thành lẽ sống, thành máu thịt trong tâm hồn, thành quan niệm đối nhân xử thế trong cuộc sống.

Tôi thực sự kính trọng những vần thơ của các thầy giáo cô giáo dạy văn trong ngành ta đã hội tụ được điều đó.Là thầy Đăng Sơn bệ vệ, lừng lững sau những vần thơ dày dặn, lão luyện đi vào chiều sâu triết luận:

                       Những thầy giáo đứng trong giàn hợp xướng

                       Khuất giữa mọi người và hát bè trầm

                       Đất nước rồi sẽ lắng động dư âm

                       Tiếng nồng ấm của người cất bè trầm

                       Dẫu chưa nhìn rõ mặt.

                                                     ( Trang sách và người thầy giáo - Đăng Sơn)

            Các bạn thì thấy thế nào, riêng tôi thấy bóng dáng mình trong những câu thơ của thầy Đăng Sơn. Vì ai mà nhìn rõ mặt các thầy cô trong giàn hợp xướng khi họ chỉ hát bè trầm?! Lặng lẽ như bước chân ai đi qua chiều chậm, chút nắng hanh gầy còn sót lại của một ngày quý giá đến nhường nào. Viết về nghề nghiệp như thể thì quả đáng thán phục. Thậm chí tôi bắt được quả tang Thầy Đăng Sơn "chắp cánh" cho thơ của mình trong ngày sinh nhật bạn:

Ngày sinh bạn tôi không về kịp

Câu thơ thắp lên chút lửa mùa đông

Tình cảm thật lời thơ không có cánh

Có kịp ấm lòng ngày vui bạn hay không...?

(Viết trong ngày sinh nhật bạn - Đăng Sơn)

Văn học bắt nguồn từ cuộc sống và trở lại phục vụ cuộc sống. Vì vậy, một khi có vốn sống thực tế, người viết sẽ có cách hiểu sâu,cặn kẽ, đúng bản chất và chính xác khi gặp các hiện tượng thẩm mỹ . Điều này chúng ta bắt gặp trong những vần thơ của thầy giáo Nguyễn Viết Lách. Tôi đã biết cát của miền biển là thế nào. Nó là "máu", là "rượu" như cách nói của nhà thơ Ngô Minh, nó là "gạo trắng" như cách nói của nhà văn Nguyễn Quang Vinh. Và ai đã từng sống với biển mới thấy cách hiểu của thầy Nguyễn Viết Lách thật hợp lý " cát chảy". Hình ảnh thơ này là cảm hứng  sáng tạo làm nên một " Mùa cát chảy" nhiều ấn tượng sâu sắc:

Biển dữ dằn, cát nổi sóng trong mưa

Cô giáo " vùng ba" hiểu hiểm nguy "cát chảy"

Đứng giữa dòng, đưa em nhỏ sang khe

Cát trắng xóa, chân cô nhòa trong cát

Rét run người, tay vẫn đón bàn tay.

 (Mùa cát chảy - Nguyễn Viết Lách)

Cũng với trường tư duy thơ như vậy, cô giáo Lê Vân có những vần thơ ám ảnh người đọc, đánh vào tâm thức của lòng nhân văn và khát khao niềm sống vô bờ. Có lẽ, dẫu đã "bỏ đi" như cách nói dỗi hờn của thầy Quang Đình THCS Kiến Giang nhưng cô giáo dạy văn kỳ cựu Lê Vân vẫn cảm quan hiện thực bằng trái tim của người giáo viên nhạy cảm, đa đoan. Cơn bão số 9 gây nên biết bao kinh hoàng cho người dân Miền Trung trong năm 2009. Những mất mát đau thương đều được hiện lên qua nỗi lo cho các em thơ ngày mai không có trung thu như thường lệ.

Viết về trung thu của những bé em vùng ngập lụt cô giáo Trần Lê Vân đã thể hiện được mặt mạnh của mình trong sáng tạo nghệ thuật. Đó là sự nhạy cảm, tinh tế trong cách biểu hiện. Nét riêng của tác giả thơ chính là ở chỗ này:

Tháng Tám mọi năm em nhỏ hân hoan

Chờ đợi Trung thu, đêm rằm phá cỗ

Đèn ông sao mang nụ cười em nhỏ

Trái bưởi tròn xoe mắt ngắm trăng lên.

 

Mấy hôm rày em sợ mẹ quên

Nên cứ nhắc đêm Trung thu sắp đến

Nhìn nước mênh mông, mẹ trách trời lỗi hẹn

Liệu đêm rằm có thấy trăng lên?

(Trung thu vùng ngập lũ - Trần Lê Vân)

Không dụng công trong trau chuốt ngôn từ và lập tứ, đó là gương mặt thơ thầy Lê Huy Dung và thầy giáo Quang Đình. Cả hai thầy làm thơ như một cuộc dạo chơi đầy thú vị. Nếu thầy Huy Dung thích lên non thì thầy Quang Đình thích xuống biển. Làm thơ như một trò chơi của chữ nghĩa nên cả hai người không để ý đến điều mà mọi người đã nghe, đã viết. Họ viết như thể để thỏa mãn khi cuộc sống còn đầy những nghĩ ngợi. Có khi thèm một lời chia sẻ sau mỗi tiết dạy văn chương chúng ta hãy đến với thơ thầy Lê Huy Dung để đồng cảm, day dứt:

Em hãy nhớ.

Một thuở nào.

Ông cha ta lầm lụi cuộc đời

hắt dòng nước bạc từ gốc lúa.

Nghiêng lòng sông chấp chới mồ hôi.

Ông ngồi trầm tư...

Cha khom lưng cật.

Đếm từng hạt giống

Mẹ xuống đồng căm căm cơn rét.

Tiếng "à ơi" ru cháu của bà.

"Cái ngủ hãy ngủ cho lâu

....Cho cạn dần vất vả...thấm sâu quê mình.

( Bài giảng hôm nay - Lê Huy Dung)

Tôi biết thầy giáo Quang Đình làm thơ đã khá lâu, phần lớn là thơ ứng khẩu, đọc để cho các đồng nghiệp nghe sau mỗi giờ đến lớp. Cái tình của người viết thì đã rõ nhưng tôi quý nhất vẫn là trách nhiệm của một người đứng lớp gương mẫu, tận tình. Thơ của Quang Đình không hoa mĩ nhưng lại đáng nhớ. Nó như vẻ đẹp của người thiếu nữ nông thôn, bình dị, khỏe khoắn và không kém phần mặn mòi:

Trống đã điểm, đồng đội ơi lên lớp!

Gió lật trang năm học mới đến rồi

Bao cảm xúc sáng ngời đôi mắt trẻ

Đi ta đi, bục giảng gọi chúng mình.

(Trống đã điểm - Quang Đình)

Hẳn bạn đọc, sẽ có suy nghĩ tôi đang tán dương thơ của đồng đội mình mà không để ý đến người khai nguồn cảm hứng cho thi ca -  thần A -  pô -  lông vĩ đại trong thần thoại Hy Lạp.

Dẫu không phải là những nhà thơ. Sáng tạo nghệ thuật không phải là một nghề chuyên nghiệp nhưng tôi thấy trong họ có ngọn lửa. Nó được ấp ủ hàng chục năm qua và đang bùng sáng ở chuyên mục văn học nghệ thuật của website Phòng giáo dục Lệ Thủy.

Tháng 11, đêm trừ tịch



Tìm kiếm
Đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Bài viết mới nhất
Hình ảnh
Liên kết website

Quảng cáo

BẢN QUYỀN THUỘC VỀ PHÒNG GD VÀ ĐT LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 052.3882625 - Email:banbientap@lethuy.edu.vn
Developed by Phạm Xuân Cường - ĐT: 0912.037911 - Email: cuonggiaoduc@yahoo.com