Lệ Thuỷ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, sông ngắn lại dốc, đồng bằng thấp, có vùng thấp hơn mặt biển nên thường bị thiên nhiên đe dọa. Nhân dân quanh năm hết chống chọi với úng mặn, hạn hán lại phải chịu đựng với bão lụt, cát bay, cát lấp...để bảo đảm sự sinh tồn và phát triển.
Sông Kiến Giang hợp lưu 4 rào: rào Mệ, rào Con, rào Mỹ Sơn, rào Sen; là con sông chảy ngược theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, có bàu phá, đầm, hổi, vụng lớn như: Bàu Sen, Phá Hạc Hải, hổi Tréo, hổi Lộc An, vụng Lùng, vụng Mỹ Phước... Do đặc điểm địa hình nên để khai phá vùng đất màu mỡ này cư dân phải bám vào triền sông, triền hói , thành làng, thành xóm.
Đường sá đi lại lầy thụt, bị sông hói chia cắt nên phương tiện đi lại chủ yếu là đò, nốôc.
Tuy diện tích không lớn, dân số không đông nhưng Lệ Thuỷ có ba vùng sinh thái kinh tế rõ rệt:
- Vùng núi, trung du.
- Vùng đồng bằng.
- Vùng cồn cát ven biển.
Vùng núi đồi nằm trong hệ Giăng Màn thuộc dãy Trường Sơn hùng vĩ chiếm trên 80% diện tích tự nhiên, có nhiều lâm sản, thú vật quý hiếm như: lim, gụ, trắc dạ, hương, trầm hương, sến, trai, voi, hổ, gấu, công, voọc, khỉ... Lòng đất có khoáng sản như vàng, titan; có hệ thống núi đá vôi là nguồn nguyên liệu dồi dào sản xuất vật liệu xây dựng và nhiều hang động trong đó có Hang Còi…. được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia; có nguồn suối Bang nước sôi tự nhiên 1050C đang trở thành điểm du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, chữa bệnh.
Vùng trung du có hệ thống đồi bát úp, đất đỏ có khả năng phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi trâu bò đàn.
Đồng bào sinh sống ở vùng núi cao chủ yếu là dân tộc Bru Vân Kiều quần tụ ở 23 bản trong 3 xã với trên 5000 dân. Trước đây vùng núi non Lệ Thuỷ là nơi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, đồng bào sống theo tập quán “du canh du cư”, “phát cốt, đốt, trỉa”, theo nghề săn bắn hái lượm là chủ yếu.
Chính vùng núi non hiểm trở này là chỗ dựa cho phong trào Cần Vương chống Pháp vào cuối thế kỷ thứ XIX do tướng Hoàng Phúc lãnh đạo.
Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1947-1954) Lệ Thủy chọn vùng núi rừng Bang Rợn nơi có con đường giao liên Bắc Nam làm chiến khu kháng chiến.
Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước con đường giao liên cũ trở thành đường mòn Hồ Chí Minh (còn gọi là đường Trường Sơn).
Những năm 1959 - 1960 thanh niên 2 huyện Lệ Thuỷ, Quảng Ninh tham gia mở đường 16 từ ngả tư Thạch Bàn vào làng Ho dài 40 km . Con đường này trở thành tuyến vận chuyển huyết mạch tiếp tế cho chiến trường miền Nam nên được đặt tên là “Tuyến Thống Nhất”. Cùng với đường 10, đường 16 trở thành các tuyến đường ngang chiến lược và cũng trở thành “Con đường máu lửa” trong kháng chiến chống Mỹ.
Các bản như Mít, làng Ho, Rum, Vít Thù Lù, Chà Khía, Tăng Ký, hang Còi trở thành nơi tập kết lực lượng, phương tiện chi viện cho chiến trường. Lớp lớp thanh niên ta đã mang, vác, gùi, cõng, khiêng, thồ… vượt hàng chục cây số trong mưa bom, bão đạn nhưng không lùi bước. Máu trộn mồ hôi của bao lớp thanh niên trong 20 năm chống Mỹ để có hôm nay biến núi rừng hoang vu, hiểm trở thành vùng kinh tế đi lên trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Con đường giao liên cũ nay trở thành đại lộ Hồ Chí Minh. Hai nhánh Đông, Tây được nối liền với các đường ngang là đường 10, 16, cho người, xe đi lại thông thương.
Những tên bản, tên làng như làng Ho, Mít, Tăng Ký, Hang Còi, đường 16, ngả tư Thạch Bàn, đã đi vào lịch sử và nhiều địa danh được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử. Nhân dân và lực lượng vũ trang 3 xã Ngân Thủy, Lâm Thủy, Kim Thuỷ được Nhà nước tuyên dương danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Đồng bào dân tộc Vân Kiều đã đoạn tuyệt với lối sống “du canh, du cư”, làm quen với cây lúa nước, gắn chăn nuôi trồng trọt với khoanh nuôi, bảo vệ rừng, cuộc sống đã đi dần đến ấm no, hạnh phúc.
Vùng trung du nằm dưới chân Trường Sơn kéo dài từ phía Bắc đến Tây Nam của huyện với hệ thống đồi có bình độ thấp, phần lớn đất đỏ bazan thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc.
Kế theo vùng đồi là vùng đồng bằng chiêm trũng. Một vùng đồng bằng có tính đặc thù trên mảnh đất Quảng Bình. Vào buổi hồng hoang của tạo hoá, biển lấn vào chân núi. Qua biến thiên, địa chấn tạo thành luỹ Trường Sa ( cồn cát vàng ven biển tựa như luỹ trường thành phía Đông) tạo nên bàu, phá. Các bàu, phá mênh mông này dần dần được trầm tích lắng động bồi tụ cùng với bàn tay lao động cần cù sáng tạo của lớp cha ông đã khẩn hoang, lập ấp dựng làng, khai kênh mở hói, biến vùng đất sình lầy đầy lau sậy, năn lác, rắn rết tạo nên vùng đồng bằng phì nhiêu, màu mở, thẳng cánh cò bay “nhất Đồng Nai, nhì hai huyện”.
Ruộng đất Lệ Thuỷ rất màu mỡ, sông hói chằng chịt, lắm cá nhiều tôm song thời tiết cũng rất khắc nghiệt, thời vụ rất khắt khe. Một năm 12 tháng nhưng chỉ làm mùa được 8 đến 9 tháng, chủ yếu là vụ chiêm (vụ Đông Xuân) năm được năm mất, không rét đầu vụ thì hạn hán hoặc lũ tiểu mãn cuối vụ, quanh năm quần quật với nắng gió mưa bão vẫn không đủ ăn. Qua lao động ông cha ta đã chọn ra được bộ giống thích hợp như theo, su, ven, chùm, chiên mưng vào gieo cấy vùng ruộng sâu, lúa thư thai vùng ruộng cạn và giống lúa ré, lúa gie cho vụ 10.
Vụ hè thu, trước đây gọi là vụ tám (vụ chăm) nhưng cũng bấp bênh, không mất hạn cũng mất vì lụt nên làm vụ tám là gắn với gàu sòng, gàu dai, xe đạp nước mới mong có ăn.
Thời vụ cũng khắt khe, một năm 2 vụ nên làm vụ chiêm phải tính vụ tám để vừa tránh rét khi lúa trổ, nhưng cũng phải khẩn trương để kịp làm vụ 8, cấy xong vụ 8 thì lo cày tháng 7, không để ruộng trầm canh. Làm ruộng ở Lệ Thủy lấy chữ “thì” làm đầu “nhất thì nhì thục”. Cấy vụ tám xong thì lo cày ruộng chuẩn bị vụ chiêm gọi là cày tháng 7 vì “tháng 7 nước nhảy qua bờ”. Nông dân coi cày ải tháng 7 là “thục”. Ruộng được cày tháng 7 năm sau lúa sây bông chắc hạt nên không để ruộng trầm canh. Năm nào để ruộng trầm canh coi như năm sau vụ mùa thất bát.
Đồng ruộng xưa là vậy nhưng từ ngày Cách mạng về nhất là trong sự nghiệp đổi mới hiện nay đã có hàng trăm công trình thuỷ lợi, điện nước, chủ động tưới tiêu …Từ chỗ “con trâu đi trước cái cày theo sau”, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nay đồng ruộng nông thôn được cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá, điện khí hoá. Một sự đổi thay diệu kỳ mà cách đây 50 năm về trước nhà thơ cách mạng Tố Hữu đã dự đoán “Núi rừng có điện thay sao. Nông thôn có máy làm trâu thay người”. Ngày nay tìm cho ra một cái gàu sòng, một xe đạp nước, cối, chày giã gạo… chắc còn khó hơn tìm sao buổi sáng trên trời.
Vùng cồn cát bãi ngang giáp Hải Ninh (Quảng Ninh) vào đến Tây Thôn giáp Vĩnh Thái (Vĩnh Linh) dài trên 32 km. Trên vùng cát chang chang nắng cháy này cứ một bước đi lên, nữa bước lùi, chỉ có cây phi lao và cây rười sống được. Hằng năm, gió Lào, gió mùa Đông Bắc, thổi cát bay tạo thành những cồn cát di động. Mưa lớn tạo thành dòng cát chảy, cát lấp lấn đồng ruộng, làng mạc phía trong. Biển thì bãi ngang nên Ngư dân không đóng tàu thuyền ra khơi xa được mà lấy nghề lộng đánh bắt ven bờ là chính, thu nhập thấp, thiếu ăn 3- 4 tháng trong năm.
Sống trong điều kiện ấy nhưng nhân dân vùng biển lại quật cường hiên ngang trước sóng gió, không chịu khuất phục trước kẻ thù, không chịu lùi bước trước khó khăn. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, miền biển là nơi che chở bảo vệ bộ đội địa phương.
Giặc Mỹ leo thang chiến tranh, đánh phá ra miền Bắc, Ngư Thuỷ trở thành toạ độ lửa, vừa là tiền đồn bảo vệ bờ biển bắt gọn các toán biệt kích, vừa chiến đấu chống máy bay tàu chiến của Mỹ.
Chúng dùng bom đạn huỷ diệt xóm làng nhưng Ngư Thuỷ quyết thề “ đá trôi chứ làng không trôi”, bám trụ chiến đấu dũng cảm, kiên cường quyết giữ làng “một tấc không đi, một ly không rời”. Năm 1967 trung đội dân quân Tây Thôn được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng. Rồi đại đội gái pháo binh Ngư Thuỷ ra đời. Ngày 7/2/1968, lần đầu tiên nữ pháo binh Ngư Thuỷ đã bắn cháy tàu khu trục của Mỹ và lần lượt bắn cháy bắn chìm 5 tàu chiến Mỹ. Năm 1970 đại đội nữ pháo binh Ngư Thuỷ, đồn Biên phòng 132 (nay là đồn Biên phòng 200) được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Để chế ngự cố định cát, chống nạn cát bay, cát chảy, sau khi miền Bắc được giải phóng, Lâm trường Nam Quảng Bình ra đời. Hàng nghìn ha phi lao được trồng và bảo vệ từ đó. Năm 1960 Bác Hồ kêu gọi tết trồng cây. Những cồn cát trắng dần dần được phủ màu xanh của phi lao. Cụ Ngô Xuân Mốc người đầu tiên có thành tích xuất sắc trong trồng phi lao chống cát được tuyên dương Anh hùng lao động. Từ đó, những thảm rừng phi lao cứ lấn dần các cồn cát chảy. Chính có rừng phi lao đó mà trong kháng chiến chống Mỹ, đã giúp dân làm hầm, dựng nhà, chống lầy cho pháo, xe qua. Từ một vùng đất cát khắc nghiệt, hàng trăm năm sống không có đường, trường học, trạm xá, biệt lập như một ốc đảo, ngày nay vùng biển đi lên phơi phới trong đổi mới. Xã nào cũng có trạm xá, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, có chợ, có đường ô tô ra tận xã, có điện sáng. Ngư dân không chỉ có nghề cá mà gắn đánh bắt với trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ, chế biến. Đời sống tinh thần, vật chất ngày càng cải thiện, đi lên.
Còn nữa...
Theo Lịch sử Đoàn Thanh niên Lệ Thủy