Trước 1945 Lệ Thuỷ gồm 7 tổng (Thuỷ Liên, An Trạch, Xuân Lai, Mỹ Lộc, Thượng Phúc Lộc, Đại Phúc Lộc, Thạch Xá)và 68 làng, tổng Thạch Bàn thuộc huyện Quảng Ninh. Sau 1945 trở đi Lệ Thuỷ có thêm các thôn: Thạch Bàn, Tân Lệ, Lại Xá, Xuân Hoà, Mỹ Đức, Ngô Xá, Hoành Viễn, Phúc Vinh, Ninh Lộc, Thượng Xá, Hoàng Đàm, Trung Tín, Lộc Xá, Ngân Sơn tách từ huyện Quảng Ninh về Lệ Thuỷ.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đến tháng 6 năm 1946 nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà định hình lại đơn vị hành chính. Lệ Thủy có 12 xã: Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Lê Lợi, Lê Khiếu, Minh Khai, Quang Trung, Tây Hồ, Cao Vân, Duy Tân, Hưng Đạo, Ngô Văn Lý, Sào Nam.
Tháng 6 năm 1955, hệ thống hành chính được tổ chức lại. Lệ Thủy có 22 xã. Xã Hưng Đạo tách thành 3 xã : Hưng Thuỷ, Ngư Thuỷ và Sen Thuỷ.
Trong những năm 1951 - 1952, trên địa bàn huyện, hình thành tương đối rõ các vùng: Tạm chiếm, căn cứ, du kích. Giặc pháp luôn cho quân càn quét, o ép dân ta phải dồn làng. Bọn chúng ráo riết vây bắt thanh niên vào lính. Chúng còn dùng thủ đoạn lừa bịp, dựng cờ, phát giấy thông hành cho anh em đi lại dễ dàng, nhưng đến nơi chúng ép vào lính luôn. Chúng còn xảo trá lập ra cái gọi “hội ủng hộ công dân tòng quân” ở một số làng.
Vào đầu năm 1952, cán bộ, đảng viên, nhân dân ta thực hiện chủ trương của huyện ủy, đó là: Xây dựng cơ sở quần chúng khắp nơi vững chắc để kháng chiến lâu dài, phát triển chiến tranh du kích, chống lại mọi âm mưu tổng động viên của giặc.
Từ đó, các làng trong xã đã chủ động hơn trong việc xây dựng làng chiến đấu và trở thành một trong những điểm địa bàn khiếp sợ của địch.
Xã Hưng Đạo nằm trải dài dọc quốc lộ 17km. Giặc pháp đóng nhiều lô cốt và có các vị trí chủ yếu ở Phù Thiết, Chợ Mai (toàn xã Hưng Đạo có 15 lô cốt) nhằm kiểm soát vùng giáp ranh giữa Lệ Thủy - Vĩnh Linh và con đường giao thông huyết mạch quốc lộ số 1.
Để bảo vệ an toàn các vị trí, địch ra sức càn quét, khủng bố nhằm cắt đứt liên lạc giữa huyện và xã.
Thực hiện Nghị quyết, chủ trương của trên, cán bộ, nhân dân các làng đã từng bước xây dựng lực lượng và phong trào kháng chiến. Mở đầu là việc dân tham gia tích cực vào làng chiến đấu, đào giao thông hào, xây công sự theo đường quốc lộ số 1. Trong các làng từ Phù Chánh, Phù Lưu, Hòa Đông và Phù Thiết làng nào cũng có điểm gác, chòi canh. Lúc cao nhất xã có 200 dân quân du kích.
Làng xã Hưng Đạo có cách đánh giặc rất phong phú gồm:
1. Phục kích địch.
2. Chống địch càn.
3. Phá hoại địch bằng quấy rối.
4. Tập kích (thường phối hợp với bộ đội).
5. Bao vây đồn địch.
6. Bắt cóc địch.
7. Bắn tỉa địch.
8. Giáp lá cà với địch.
9. Đánh bằng cạm bẩy.
10. Đánh bằng binh vận.
Vũ khí đánh giặc có nhiều chủng loại:
1. Bom nổ chậm .
2. Mìn.
3. Chông bàn, chông cây.
4. Lựu đạn (lựu đạn mù).
5. Súng trường.
6. Mác săn lợn.
7. Đạn đạo.
8. Kiếm.
9. Gậy gộc.
10 Tiểu liên (súng).
Việc rào làng chiến đấu ở các làng trong xã rất kiên cố, gồm 2 tuyến chạy dọc trước và sau các làng 12 km và 11 tuyến đường ngang khoảng 10 km. Hàng rào bao bọc các làng, phía ngoài có cổng ra vào, có 12 vọng gác do du kích trực để báo tính hiệu bằng kẻng cho dân làng biết địch đến. Có 6 chòi gác gồm:
1. Động Ngước.
2. Động Ông Chỏ.
3. Động Bậc Đập.
4. Động Câu Cây Nhứt.
5. Động Ba Voi.
6. Đông Phát Lát (Động Lò).
Hàng rào làm bằng tre là chủ yếu, cao 1,8m (nhằm ngăn cản bước tiến của địch).
Phía trong hàng rào có công sự cao 1,6m, rộng 1,5m. Trực tiếp chỉ huy hàng rào làng do các ông hộ lại: Nguyễn Đình Chây, Nguyễn Hiển, Lê Tao, Phan Khê, Nguyễn Đình, Bùi Ngụng.
Lúc này 4 làng Phù Thiết, Hòa Đông, Phù Lưu, Phù Chánh có 550 hộ, khoảng 1900 dân. Khí thế đứng lên kháng chiến trong các làng ngày một chuyển biến tốt. Du kích dân quân, cán bộ, nhân dân xã liên tiếp tấn công quân giặc, làm cho địch khiếp sợ.
Cùng với làng chiến đấu Cự Nẫm ( Bố Trạch), Cảnh Dương( Quảng Trạch), Hưng Đạo là một điển hình về làng chiến đấu kiểu mẫu của huyện ta, tỉnh ta và có tính điển hình toàn quốc.
Có thể nói, đặc trưng của các làng xã chiến đấu Hưng Đạo nổi tiếng là:
- Có tổ Đảng, cán bộ, đảng viên gan dạ dũng cảm trong mỗi xóm làng.
- Có rào làng chiến đấu vững chắc.
- Có nhiều cơ sở quần chúng cách mạng.
- Có phong trào đấu tranh chính trị khéo léo (chủ yếu là do lớp người 50 – 60 tuổi).
- Có đội quân tóc dài – phụ nữ trực tiếp chiến đấu, mở đầu trận đánh ở xã.
- Có đại đội biệt động (do Nguyễn Đình - đại đội trưởng chỉ huy).
- Có đại đội thiếu niên cứu quốc do anh Trọng - đại đội trưởng chỉ huy).
- Có hội tề hai mặt.
- Có ban nuôi cán, nuôi quân.
- Có ban liên lạc (khi viết tên người phải viết ngược ký hiệu).
Như vậy, làng chiến đấu Phù Chánh, Phù Lưu, Phù Thiết, Hòa Đông là làng toàn dân đánh giặc rất tiêu biểu.
Làng xã Hưng Đạo thật xứng với vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng thưởng HUÂN CHƯƠNG KHáNG CHIếN hạng hai và đón nhận cuốn sách tỉnh ủy tặng thưởng “Tỉnh ủy bí mật” – Cuốn sách do Hồ Chủ tịch gửi vào làm phần thưởng cho những đơn vị tiêu biểu trong phong trào giết giặc lập công.
Bước vào Đông xuân 1953 – 1954, các xã trong huyện đều được củng cố các mặt. Các làng tổ chức gọi loa, kêu gọi binh lính đấu tranh bỏ ngũ. Phong trào địch vận, ngụy vận phát triển rộng khắp. Trước tình thế có lợi đó, quân dân ta dùng mưu mẹo để tiến công, bọn địch lo sợ, co cụm, chỉ hoạt động trên đường 1.
Nhiều cán bộ, đảng viên ở các làng Phù Chánh, Phù Lưu, Hòa Đông, Phù Thiết vào hoạt động đánh giặc ở phía nam xã Hưng Đạo và đã lập công xuất sắc.
Trong lúc quân dân ta đang trên đà tiến công mọi hướng, mọi phía, thi tin vui thắng trận Điện Biên Phủ vang dội đến làm nức lòng người.
Cuối tháng 7 – 1954, huyện ta được giải phóng. Ngày 01/8/1954, đã thực sự ngừng hẳn tiếng súng. Số quân giặc trên địa bàn huyện Lệ Thủy đã rút về Đồng Hới trong vòng 5 ngày từ ngày 06 đến 11/8/1954.
Làng xã trong những ngày mùa thu vui như ngày hội lớn, mọi người biểu thị quyết tâm xây dựng cuộc sống mới thực hiện những nhiệm vụ mới đặt ra.
Phạm Xuân Thành
GV-TPT trường TH Hưng Thủy
(Tổng hợp, giới thiệu)