Menu
THÔNG BÁO
Hỗ trợ trực tuyến
Lê Đình Đức
Lê Đình Đức
Admin
Phạm Xuân Cường
Phạm Xuân Cường
Developed
Thống kê truy cập
Số người đang online: 74
Số lượt truy cập: 51421972

Quảng cáo
CẢM XÚC THÁNG 11 18/11/2021 4:24:48 CH
Cái rét đầu đông giữa những ngày 20/11 đã nhường lại cái nồng ấm của tình yêu thương Thầy trò! Những ngày này, người Thầy lại ngập tràn trong niềm hạnh phúc khi xã hội quan tâm, được các thế hệ cựu học sinh đều hướng về “ ngày sinh nhật thứ 2” với đạo lí “ uống nước nhớ nguồn ”, với sự ngưỡng mộ, sự kính trọng, sự kỳ vọng vào những điều tốt đẹp nhất mà các thầy cô giáo đã, đang và sẽ tiếp tục xây đắp cho các thế hệ học trò từ xưa đến nay.

Hai năm qua, dịch dã hoành hành, lũ lụt tàn phá. Giáo dục trải qua những bước thăng trầm nhưng phong trào dạy học Lệ Thủy đã vượt qua một cách ngoạn mục. Xứ Lệ vẫn là điểm sáng về chất lượng giáo dục của Tỉnh: Lần đầu tiên một trường miền núi biên giới xa xôi đạt danh hiệu Đơn vị xuất sắc: Trường Phổ thông Dân tộc bán trú TH&THCS Lâm Thủy. Và cũng là lần đầu tiên lá cờ đầu cấp THCS của Tỉnh thuộc về một trường vùng phía trước: THCS Tân Thủy! Vui lắm và cũng tự hào biết bao!

Năm nay (năm học 2021-2022), một năm học thật đặc biệt, dịch Covid 19 làm nề nếp giáo dục xưa nay đảo lộn. Lần đầu tiên chứng kiến một lễ khai giảng online, dạy online với bao nhiêu khó khăn bỡ ngỡ. Rồi những ngày dịch  tạm lắng, thầy trò vỡ òa cảm xúc khi được trở lại trường lớp dạy học tập trung. Qua bao tháng ngày chờ đợi, trên mọi nẻo đường, học sinh và thầy cô lại nô nức đến trường với bao niềm vui. Những lúc như thế này, trong tôi lại trào lên nỗi niềm khó tả!

Chúng tôi, những Cựu giáo chức, 20/11 về vẫn y nguyên cảm xúc như ngày nào, vui được đón nhận nhiều lời chúc mừng từ bạn bè, đồng nghiệp, từ bao thế hệ học sinh. Có khác chăng đó là nỗi nhớ tăng lên gấp bội. Nhớ thầy, nhớ trò, nhớ bè bạn, nhớ mái trường nơi mình từng công tác.

*

Hai mươi tháng mười một về, tôi lại nhớ về người thầy đầu tiên, đó là cha tôi, ông Lê Thuận Châu. Cha tôi không chỉ là người thầy đầu tiên của tôi mà là người thầy đầu tiên của quê hương Cách mạng Trung Lực - Mỹ Thổ . Lịch sử Đảng bộ Tân Thuỷ, trang 86 ghi rõ : "Trước năm 1945, ở Mỹ Thổ - Trung Lực số người học chữ Quốc ngữ đến trình độ Yếu lược chỉ đếm trên đầu ngón tay: Khoảng 30 người, trong đó duy nhất có một nữ là chị Lê Thị Hường, và hai người học đến Primes là anh Lê Thuận Hạo và Lê Thuận Châu. Phần lớn những người có trình độ văn hóa đã trở thành cán bộ cốt cán của cách mạng, còn tuyệt đại đa số nhân dân đều mù chữ... ".  Đúng vậy, cô ruột tôi Lê Thị Hường từ Chủ tịch hội Phụ nữ kháng chiến về sau gia nhập quân ngũ. Anh (con bác ruột tôi) Lê Thuận Hạo làm trưởng ban Bình dân học vụ, tham gia kháng chiến. Sau khi hoà bình lập lại, anh trở về với nghề dạy học.

Nhớ Cha! Tôi nhớ về những tháng năm hoạt động cách mạng của một người Thầy! Trong những ngày của năm 1945, Cha tôi được ghi nhận là một trong những thành viên tích cực vận động nhân dân tham gia tổng khởi nghĩa  Tháng Tám. Năm 1946 xã Duy Tân (nay là Tân Thủy) thành lập trường phổ thông đầu tiên gồm 3 lớp. Tại ngôi trường sơ khai này, cha tôi đã cùng ông Dương Công Minh và Lữ Phúc Đồng trực tiếp giảng dạy (trang 88 Lịch sử Đảng bộ Tân Thuỷ đã ghi rõ). Chín năm kháng chiến ông lên chiến khu nằm gai nếm mật ..... Cha là người có trình độ diễn thuyết giỏi và thành thạo tiếng Pháp nên được cấp trên đào tạo thành cán bộ tuyên huấn. Sau đó, Cha được bồi dưỡng chính trị tại Trường Trần Phú và trở thành giảng viên Đảng huấn  lúc mới 25 tuổi. Với tôi, cha là người thầy vĩ đại, uyên thâm kiến thức Đông Tây kim cổ.

Thật xúc động, mới đây thôi, một cựu giáo chức 85 tuổi, trên tay mang hộp bánh đến nhà tôi và xin phép được thắp nén nhang cho Thầy. Bà kể trong xã cùng lớp với bà, hiện còn ba người là học trò của cha tôi và ngỏ ý lần giỗ cha tôi sắp đến xin được một lần "diện kiến" Thầy! Tôi nghe mà nước mắt rưng rưng! Kết quả gieo trồng của người Thầy dù sớm hay muộn cũng thật ngọt ngào và ý vị.

*

Hai mươi tháng mười một về, tôi lại nhớ về những ngày đầu mới vào nghề công tác nơi miền khó khăn gian khổ Quảng Trị. Từ Triệu Tài về Triệu Vân, lên Triệu Trạch cho đến bến neo đậu cuối chặng đường nghề giáo là quê hương Lệ Thủy. Biết bao lớp học trò đã lần lượt rời bến để đến với miền đất hứa! Và cũng đã 45 năm đã đi qua với bao biến cố thăng trầm. Nhưng có một điều vẫn luôn vẹn nguyên tươi mới trong tôi là tình thầy nghĩa trò! Cảm động khi những ngày này , tôi lại được các em nhớ và nhắc lại nhiều kỷ niệm với lòng yêu thương và kính trọng.

Năm ấy, tôi chuyển công tác về Triệu Vân, vùng Nam Cửa Việt. Đây là  vùng giao tranh ác liệt trong những tháng năm chiến tranh chống Mỹ. Ở đây, phần đông người dân sơ tán ra Bắc, số còn lại bám trụ, vừa đánh cá vừa chuyên chở vũ khí từ Vĩnh Linh vào cho bộ đội. Sau giải phóng, người dân trở về xây dựng lại quê hương từ bàn tay không. Tôi về đây khi trường học mới làm lại trên một bãi cát trắng không một bóng cây. Lớp học được làm từ 100% vật liệu chiến tranh lấy từ sân bay Ái Tử. Tường thưng che bằng những tấm ri, mái lợp tôn, nền lót bao cát quân sự, bàn ghế là những cây gỗ phi lao. Lũ trẻ đến trường, chân không dép, không nón mũ, áo quần nhiều em mặc loại bao cát quân sự may lại, mắt mũi kèm nhèm do những đợt bão cát. Nhà cửa tạm bợ, nhiều nhà ở là những túp lều lợp bằng tranh rười. Hai căn nhà tập thể cho giáo viên cũng bằng vật liệu chiến tranh y như trường học. Những tháng cao điểm nắng nóng không ở nỗi, mùa bão nam, mì hột (bo bo) thay cơm phải để lóng cát trong bát mới ăn được. Khủng khiếp nhất là nạn bọ chét, đêm soạn bài bên ngọn đèn dầu leo lét, một tay cầm bút, một tay mò chét. Những ngày trở trời, chét bò nhung nhúc, có đêm thức trắng không chợp mắt. Thế nhưng thầy trò vẫn miệt mài dạy, miệt mài học, không chút thở than. Tình thầy trò như những bông hoa xương rồng trên cát: tinh khiết, sáng trong, thương yêu gắn kết như ruột thịt.

Dân mới trở về, phương tiện đánh bắt còn thô sơ, kết hợp trồng thêm khoai lang ở các biền nước lợ, trồng sắn ở các bãi bạc, nên đời sống hết sức khó khăn vất vả. Thầy cô cũng phải tổ chức cho học sinh lao động trồng thêm khoai sắn, rau màu tự túc, củi đun bằng cỏ do học sinh các lớp lao động cắt về. Khổ vậy đó, nhưng được cái tình, người dân yêu thương đùm bọc thầy cô, mỗi lần ghe cá về, đầu tiên lấy phần để cho thầy cô đã rồi mới cân đong chia chác.

Nghỉ hưu, tôi có thời gian lập Facebook và nhờ mạng Facebook nên thầy trò có dịp gặp nhau, điều làm tôi cảm động là sự vui mừng của các em khi tìm lại được Thầy, với những lời lẽ biết ơn, kính trọng. Các em đã làm thơ tặng tôi:

NHỚ THẦY

(Nhân Hoàng)

Em viết bài thơ kính tặng thầy

Bao nhiêu tình cảm gửi vào đây

Ngàn năm em vẫn ghi đáy dạ

Ơn thầy ngày tháng chẳng phôi pha !

Cái ngày xưa ấy... mãi không xa

Giọng nói thầy yêu vẫn đậm đà

Nghiêng nghiêng nét chữ, ôi thương quá!

Hơn bốn mươi năm chẳng thấy già.

Nay thời gặp lại cũng nhận ra

Mái tóc pha sương vì lão hóa

Nụ cười hớn hở nở như hoa

Ngày đêm bay bổng những lời ca...!

Chẳng khác ngày xưa... vẫn điệu đà

Lúc buồn, ôm lấy đàn ghi ta

Tích tình tình tang...ôi! hay quá

Vẫn giống như xưa... vẻ hiền hòa !!!

*

ƠN THẦY

(Mai Hoàng)

Em đọc lại bài thầy viết.

Cả vùng ký ức ùa về.

Niềm yêu thương dâng tha thiết

Cồn cào một nỗi nhớ quê!

*

Một vùng cát nhảy cát bay.

Trăm nẻo đường mòn lối cỏ

Có còn nhớ dấu chân Thầy?

Có vương tiếng đàn năm cũ?

Đàn chim ngày nào rời tổ.

Tìm chân trời mới xa xôi

Dẫu ven rừng hay góc phố,

Tình Quê mang nặng bên đời!

*

Làm sao quên được Thầy ơi!

Mái trường đơn sơ ngày ấy

trong em trở nên Tuyệt vời

Nuôi tâm hồn em lớn dậy!

*

Quê hương một vùng nắng cháy

Bốn mùa khoai sắn thay cơm

Lời Thầy Cô từng khuyên dạy

Tình quê chẳng thể nào quên!

*

Với tôi, đó là những món quà vô giá mà nghề đã mang lại cho tôi, ngày  20/11/2019, lớp học trò đầu tiên (1976) của tôi ở Triệu Tài (Triệu Phong, Quảng Trị) đã có chuyến ngược thời gian trở về thăm thầy chủ nhiệm. Thầy trò không hơn nhau mấy tuổi. Nhìn các em đã xấp xỉ lục tuần vẫn lễ phép, thỏ thẻ, thẹn e như ngày xửa ngày xưa ấy, mà lòng rưng rưng niềm tự hào khôn tả. Năm ngoái, ngày 8/6/2020, lại được tiếp học trò Triệu Vân (Triệu Phong, Quảng Trị), các em nhắc nhiều kỷ niệm, nhắc đến tiếng đàn và những câu chuyện cổ tích thầy kể. Ký ức xưa ùa về như thác chảy, tôi cầm đàn hát lại bài hát xưa đã đã tập hát cho các em, các em cùng vỗ tay cùng hát như thể ngày nào đang ngồi trong lớp học: “Vàng anh và chim khuyên, ríu rít từng đàn chim sớm chiều cùng vui bầy...dù bay khắp mọi miền, vẫn nhớ rừng cây xưa, nâng cánh cho chim bay, từ lúc tuổi còn thơ...”.

*

Hai mươi tháng mười một về, tôi lại nhớ về thời chiến tranh tuổi thơ đi học. Năm 1967, 1968 là những năm bom đạn Mỹ leo thang bắn phá Miền Bắc ác liệt, Lệ Bình (xã Xuân Thủy), nơi tôi ở là HTX sản xuất gạch ngói vôi và là điểm bắn phá của Mỹ. Kiến Giang, dòng sông huyết mạch giao thông chuyên chở vũ khí tập kết vào nam ở Kho Tiền Thiệp, nên làng mạc ven sông bom đạn tả tơi.

Chúng tôi, lũ trẻ lam lũ vừa học vừa phụ giúp gia đình, rảnh rỗi săn tìm chế tác đồ chơi từ bom đạn, mở bom bi lấy ve ve chơi sành điệu dạn dĩ như những công binh. Bom đạn ngày càng ác liệt, lớp học nhà hầm chuyển học ban đêm với những ngọn đèn “phòng không” leo lét... Thấy không an toàn cho lớp trẻ (những mầm non tương lai đất nước), năm 1968, Nhà nước đã thực hiện “Kế hoạch tám” (K8) sơ tán trẻ ra vùng an toàn hơn. Anh trai và em trai tôi đi K8 sơ tán ra Thanh Hóa, chị gái theo mẹ ở cơ quan Huyện ủy, tôi được cha cho sơ tán lên Tân Thủy ở nhà cô ruột đi học. Tôi nhớ lớp học là một nhà hầm sơ tán khỏi làng ra nơi bãi tha ma giữa cánh đồng trường, cách điểm Mỹ bắn phá Cầu Ngò độ cây số nên cũng khá an toàn. Tôi theo học lớp bốn do thầy Dương Văn Tiến chủ nhiệm. Thầy rất nghiêm khắc, ngoài dạy kiến thức thầy còn hướng dẫn kỹ năng tránh bom đạn khi có máy bay đánh phá, kỹ năng phòng chống chất độc hóa học, kỹ năng phòng ngừa phát hiện gián điệp... Học sinh đến trường và ra về phải đi tốp ba cách nhau vài chục mét, tôi nhớ đôi lần cũng bị thầy phạt do vội vã ra về không giữ đúng khoảng cách...

Tôi từ Quảng Trị về quê Tân Thủy công tác năm 1987, hai mươi năm gặp lại thầy giáo cũ, thầy trò vui mừng ôn lại chuyện xưa. Nay về hưu được sinh hoạt với thầy trong Hội Cựu giáo chức xã, mỗi lần tọa đàm kỷ niệm hai mươi tháng mười một, thầy trò lại được gặp nhau, lại nhắc đến  kỷ niệm thời chiến tranh trên bom dưới đạn.....

*

Nhớ ...! Nhớ...! Nhớ lắm... ! Nhớ nhiều... ! Trong những ngày kề cận 20/11 này, ký ức một thời dạy học ùa về như thác chảy, niềm vui, niềm tự hào xen lẫn nhớ  nhung ! Tôi hiểu rằng, các thầy cô là những cựu giáo chức đều cùng cảm giác như tôi, chắc rằng sẽ có những giấc mơ thuộc về quá khứ: Giấc mơ đến trường.

Tân Thủy, ngày 17/11/2021

THUẬN LỄ


1211tl01.jpg

Hiệu trưởng trường Tiểu học Tiền Phong 1996


1211tl02.png

Học sinh Triệu Tài (Triệu Phong, Quảng Trị) thăm thầy giáo


1211tl03.png

Học sinh Triệu Vân( Triệu Phong , Quảng Trị ) thăm thầy giáo .


1211tl04.png

Tập thể Hội đồng sư phạm TH Tiền Phong 1997


1211tl05.png

Tập thể Hội đồng sư phạm TH Hưng Thủy năm 2000


1211tl06.png

Tập thể Hội đồng sư phạm TH Ngư Thủy Trung  năm 2017


1211tl07.png

Gặp mặt Cựu CBQL Tiểu học 2017


1211tl08.jpg

Tặng quà thầy Dương Văn Tiến nhân ngày 20/11/2020

Tìm kiếm
Đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Bài viết mới nhất
Hình ảnh
Liên kết website

Quảng cáo

BẢN QUYỀN THUỘC VỀ PHÒNG GD VÀ ĐT LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 052.3882625 - Email:banbientap@lethuy.edu.vn
Developed by Phạm Xuân Cường - ĐT: 0912.037911 - Email: cuonggiaoduc@yahoo.com