Menu
THÔNG BÁO
Hỗ trợ trực tuyến
Lê Đình Đức
Lê Đình Đức
Phạm Xuân Cường
Phạm Xuân Cường
Developed
Thống kê truy cập
Số người đang online: 187
Số lượt truy cập: 38326202

Quảng cáo
HÌNH ẢNH ANH BỘ ĐỘI TRONG THƠ CA CÁCH MẠNG VIỆT NAM 12/22/2010 4:21:59 PM
Anh bộ đội, người chiến sĩ, chú giải phóng quân..., nhiều tên gọi khác nhau, song tất cả chỉ là một - đó là anh, Anh bộ đội cụ hồ. Không biết từ bao giờ, nhân dân ta yêu anh bộ đội như yêu quý người thân. Có lẽ, vì ta yêu cái lý tưởng cao đẹp: “Trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội...” (Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Không phải ngẫu nhiên mà văn học Cách mạng Việt Nam có một khối lượng tác phẩm lớn dành riêng cho đề tài người lính và chiến tranh. Chúng ta cùng điểm lại hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ trong thơ ca Cách mạng Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc để càng yêu mến hơn, tự hào hơn về anh - người con của đất Việt với lí tưởng: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Cho em thơ yên ngủ, cho quê hương sạch bóng quân thù!

I.  Từ kháng chiến chống pháp:

          Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ mà hiển vinh, thơ ca đã ghi lại một cách sinh động và chân thực về hình tượng người lính trong chiến trường. Họ là những người lính xuất thân từ nông dân, chất phác và bình dị. Chính họ đã dựng lên tượng đài bất hủ trong thơ ca về người chiến sĩ Cách mạng. Người lính đi vào chiến trường với những hình ảnh đẹp nhất, anh dũng nhất và cũng đầy chất lãng mạn nhất... Tất cả đều cùng chung lí tưởng yêu nước giết giặc, cùng thể hiện tinh thần xả thân vì Tôt quốc, vì nhân dân.

          Các anh là con của nhân dân. Sinh ra, lớn lên từ ruộng đồng, từ đất mẹ yêu thương:           

                   “Quê hương anh nước mặn đồng chua

                   Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

                   Anh với tôi đôi người xa lạ

                   Từ phương trời chẳng hẹn quen nhau”

(Đồng chí - Chính Hữu)

          Phần lớn người lính thời chống Pháp ra đi từ những miền quê nghèo, nơi “nước mặn, đồng chua”, với ”đất cày lên sỏi đá”... Chính sự tương đồng về hoàn cảnh đã làm cho những người  ”chiến sĩ chân đất đầu trần” của chúng ta có cùng chung lý tưởng, chí hướng:

                   “Súng bên súng đầu sát bên đầu

                   Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

          Người lính phải trải qua bao vất vả, khó khăn, thiếu thốn, bệnh tật, với “những cơn sốt run người, vầng trán ướt mồ hôi”, cùng “áo rách vai, quần có vài mảnh vá”... Vậy mà, họ vẫn kiên cường đạp lên tất cả, coi thường chông gai, vượt qua bao mưa bom bão đạn để chiến thắng mọi vũ khí hiện đại nhất của giặc Pháp. Điều đó đủ để thấy được tinh thần, nghị lực chiến đấu, vượt qua hiểm nguy để đến với thắng lợi cuối cùng:

                   “Lại những ngày đi vắt với sương

                   Ngô bung, xôi nhạt nước lưng bương

                   Đêm mưa rình giặc tai thao thức

                   Ngày lại ngày đi rét nhức xương...”

(Giết giặc - Tố Hữu)

          Hồi đầu kháng chiến, các anh phải thiếu thốn nhiều bề. Có gì gian khổ hơn khi những mối hiểm nguy luôn luôn rình rập trên đường hành quân:

”Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Và đây nữa:

”Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời...”

(Tây tiến - Quang Dũng)

          Những người lính ấy đã tình nguyện rời bỏ quê hương, xa rời bờ tranh, mái lá, xa cây đa, bến nước, con đò, nghe theo tiếng gọi của tiền phương. Dầu xuất thân khác nhau, dầu không cùng chung hoàn cảnh, nhưng đã chung chiến hào thì thành tình đồng đội. Rất có thể, trong số họ sẽ có người :

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

(Tây tiến - Quang Dũng)     

          Khó khăn là thế, thiếu thốn, gian khổ là thế, dù cho “Giọt mồ hôi rơi trên má anh vàng nghệ” (Giết giặc - Tố Hữu), dù mưa gió triền miên, dù vũ khí thô sơ, thiếu thốn... thì tình yêu quê hương, yêu đất nước luôn thường trực, luôn rạo rực, thôi thúc các anh:

 “Lột sắt đường tàu

Rèn thêm dao kiếm

áo vải chân không

Đi lùng đáng giặc”

(Nhớ - Hồng Nguyên)

          Trong gian khổ, tinh thần lạc quan của các anh càng tỏa sáng, cùng với lòng yêu nước, chí căm thù giặc làm thành vũ khí  để vượt qua tất cả:

“Cười lên, ai cấm ta đâu

Đồng tình ta trượt, dù đau cũng cười...”

 (Mưa núi - Minh Huệ)

          Đi hành quân, đường trơn, vác nặng, vượt mưa lũ, trèo đèo cao... Vất vả thế đấy nhưng luôn đầy ắp tiếng cười. Ngã cũng cười; trượt chân cũng cười; có anh tuột gạo cũng cười; qua suối, phải cởi quần áo... lại cười!

          Mặc dù “áo vải chân không đi lùng đánh giặc” song anh chiến sỹ của chúng ta, sau những giờ phút cam go, nguy hiểm đối mặt với kẻ thù vẫn  cười, vẫn đùa vui một cách vô tư, yêu đời bên đồng đội thân yêu:

 “ - Đằng nớ vợ chưa, đằng nớ

 - Tớ còn chờ độc lập

Cả lũ cười bên ruộng bắp

 Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu”

(Nhớ - Hồng Nguyên)

Lòng lạc quan cách mạng của các anh còn thể hiện ở niềm tin vào khả năng của mình trước kẻ thù hung bạo:

 “Thằng Tây chớ cậy xác dài

Chúng tao người nhỏ nhưng dai hơn mày

Thằng Tây chớ cậy béo quay

Mày thức hai buổi là mày bở hơi

Chúng tao thức bốn đêm rồi

Ăn cháo ba bữa chạy mười chín cây

Bây giờ mới gặp mày đây

Sức tao vẫn đủ bắt mày hàng tao”

(Ca dao kháng chiến)

          Đặc điểm nổi bật ở các anh bộ đội của chúng ta là tinh thần quả cảm, vượt lên mọi gian lao, nguy hiểm. Các anh là những người  đứng trên tuyến đầu của cuộc kháng chiến ác liệt, sẵn sàng hy sinh:

 “Những đồng chí chèn lưng cứu pháo

Nát thân nhắm mắt còn ôm

Những bàn tay sẻ núi lăn bom

Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện”

 (Hoan hô chiến sỹ Điện Biên - Tố Hữu)

          Mỗi thắng lợi mà họ giành lại được là để cho nhân dân, cho Tổ quốc, cho nên, vui biết bao, sướng biết bao khi lập được chiến công, khi giết được nhiều giặc:

 “Trận chợ Đồn, chợ Rã

Ta đánh giặc chạy re

Hai đứa cười ha hả”

 (Giết giặc - Tố Hữu)

          Lòng yêu nước, niềm tin cách mạng và tinh thần lạc quan là những yếu tố làm nên thắng lợi của các anh. Dù cho khó khăn chồng chất khó khăn thì các anh vẫn tin tưởng, vẫn kiên trung:

 “Dù ai nói ngả nói nghiêng

Lòng ta vẫ vững như kiềng ba chân

Dù ai rào dậu ngăn sân

Lòng ta vẫ giữ là dân cụ Hồ”

(Ca dao kháng chiến)

Và vững tin:

 “Ta đi tới trên đường ta bước tiếp

Rắn như thép, vững như đồng

Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp

Cao như núi, dài như sông

Chí ta lớn như biển Đông trước mặt”

(Ta đi tới - Tố Hữu)

          Nói đến người lính, không gì sâu nặng bằng tình đồng chí, đồng đội. Gian khổ, thiếu thốn bên nhau, hiểm nguy cùng nhau đối mặt; “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”, “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”. Trước mỗi chiến thắng, họ cùng nhau reo hò, ca hát. Ngược lại, trước sự hy sinh của đồng đội, họ đau  đớn vô cùng:

                   “Khóc anh không nước mắt

                   Mà lòng đau như cắt

                   Gọi anh chửa thành lời

                   Mà hàm răng dính chặt”

 (Viếng mộ - Hoàng Lộc)

          Lạc quan, dũng cảm, tình đồng đội keo sơn, là các anh, những người lính cụ Hộ, xả thân vì Tổ quốc. Hình ảnh của các anh là hình ảnh đẹp tuyệt vời của một dân tộc anh hùng:

                   “Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

                   Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo

                   Núi không đè nổi vai vươn tới

                   Lá ngụy trang reo với gió đèo”

(Lên Tây Bắc - Tố Hữu)

          “Dốc núi cao nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi, vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù?!” Lòng quyết tâm ấy, chí căm thù ấy của các anh đã làm nên thắng lợi lẫy lừng Điện Biên “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” làm cho thực dân Pháp phải kinh hồn bạt vía, thế giới phải thán phục! Các anh đã làm rạng rỡ trang sử vàng của dân tộc. Nhà thơ Tố Hữu đã thay mặt nhân dân cả nước vẫy chào các anh trong niềm vui đại thắng:

                   “Hoan hô chiến sỹ Điện Biên

                   Chiến sỹ anh hùng

                   Đầu nung lửa sắt

                   Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm,

mưa dầm, cơm vắt

                   Máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn”

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)

Để rồi:

“Bố kể chuyện Điện Biên

Bộ đội mình chiên thắng

Lũ Tây bị bắt sống

Ta giải đi từng đoàn

Tướng Đờ - cát xin hàng

Bốt đồn đều san phẳng”

 (Một chiều hè lịch sử - SGK lớp 4)

          Dân tộc Việt Nam kết thúc cuộc trường chinh chống thực dân Pháp xâm lược. Nhưng, niềm vui chưa trọn vẹn khi miền Nam thân yêu còn oằn mình dưới gót giày xâm lược của đế quốc Mĩ. Các anh lại lên đường vào với miền Nam, bước vào một cuộc trường chinh mới...

II. Đến kháng chiến chống mĩ:

          Vẫn là các anh bộ đội áo nâu chống Pháp trước kia, và hôm nay các anh lại tiếp tục lăn lộn trên chiến trường với kẻ thù mới: tàn bạo, hung ác hơn, vũ khí tối tân, hiện đại hơn. Buổi đầu cuộc kháng chiến chống Mĩ những năm 60, trang bị vẫn còn rất thô sơ, nhưng tư thế của các anh hiện lên thật hiên ngang, bất khuất:

                   “Hỡi người anh giải phóng quân

                   Hai mươi năm chẳng dừng chân trên đường

                   Vẫn đôi dép lội chiến trường

                   Vẫn vành mũ lá coi thường hiểm nguy”

(Tiếng hát xuân sang - Tố Hữu)

          Anh giải phóng quân hôm nay vẫn là anh chiến sĩ hôm qua, đầu trần, chân đất bình dị, nhưng cao lớn hơn, trưởng thành hơn:

                   “Anh đi xuôi ngược tung hoành

                   Bước dài như sóng lay thành chuyển non

                   Mái chèo một chiếc thuyền con

                   Mà sông nước dậy, sóng cồn đại dương”

 (Tiếng hát xuân sang - Tố Hữu)

 

          Anh bộ đội đánh Pháp ngày xưa chưa có được chiếc mũ tai bèo như anh giải phóng quân đánh Mĩ:

                   “Ôi cáí mũ vải mềm dễ thương như một bàn tay nhỏ

                   Chẳng làm đau một chiếc lá trên cành

                   Sáng trên đầu như một mảnh trời xanh

                   Mà xông xáo, mà tung hoành ngang dọc

                   Mạnh hơn cả đạn bom, làm run sợ cả Lầu Năm Góc”

 (Bài ca mùa xuân 1968 - Tố Hữu)

          Vành mũ tai bèo đó, đỉnh cao nhất trong con người anh, cả thế giới đã biết đến. Không biết anh là ai, tên gì, chỉ thấy anh có chiếc mũ tai bèo, người ta gọi anh là anh giải phóng quân. Thế thôi, rất đơn đơn sơ, nhưng nó đã khiến cho khắp năm châu nể phục:

                   “Ta muốn hỏi Trường Sơn

                   Có đỉnh nào cao hơn

                   Chiếc mũ kia của chủ nghĩa anh hùng cách mạng?!”

 (Xuân 68 - Tố Hữu)

          Và, hiếm có một dân tộc nào qua mấy nghìn năm dựng nước, phải đánh giặc liên miên để giữ nước. Vậy mà con người ở đây, đường ra trận vẫn rộn rã, tươi vui như ngày hội:

                   “Có những ngày vui sao cả nước lên đường

                   Xao xuyến bờ tre, từng hồi trống giục

                   Xóm dưới làng trên con trai con gái

                   Xôi nắm, cơm đùm ríu rít theo nhau

                   Súng nhỏ, súng to, phố phường chật hẹp

                   Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu”

 (Đường ra mặt trận - Chính Hữu)

          “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Đấy là mục đích, là lý tưởng của cuộc đời anh giải phóng. Đánh giặc, có ai nghĩ đó là công việc nhẹ nhàng?! Thế mà các anh lại xem đó là chuyện thường, là niềm vui. Cho nên, khi giáp mặt với quân thù, các anh vẫn cầm chắc tay súng, vẫn ra rả tiếng cười:

                   “Ta đi trăng cũng đi theo

                   Đường xa, dốc núi, đỉnh đèo trăng soi

                   Bây giờ trăng đã ngủ rồi

                   Ta đi lòng vẫn sáng ngời ánh trăng”

 (Ca dao chống Mỹ, cứu nước)

          Có ai ngờ, những con người đang lao mình vào cuộc chiến ác liệt mà tâm trí lại có thể ung dung, thanh thản, lạc quan đến vậy!

          Phạm Tiến Duật trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” đã tái hiện lại hình ảnh người chiến sĩ lái xe thật ung dung, yêu đời, đầy chất lính:

                   “Xe không có kính không phải vì xe không có kính

                   Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

                   Ung dung buồng lái ta ngồi

                   Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

                   Nhìn thấy gió lùa xoa mắt đắng

                   Thấy con đường chạy thẳng vào tim”

          Và, có gì nhân hậu hơn tấm lòng của các anh:

                   “Chim ơi, chim ở nơi nao

                   Ví không có tổ thì vào ở chung”

          Lòng nhân ái của các anh “Chẳng làm đau một chiếc lá trên cành”. Nhưng trước kẻ thù, các anh luôn là những chiến sĩ  kiên trung, quả cảm, chiến đấu hết sức mình, xả thân vì mục đích cứu dân, cứu nước:

                   “Đầu bị thương không rời trận địa

                   Giáp mặt quân thù quên hết nỗi đau riêng”

          Kể chuyện một anh chiến sĩ trên đường băng Tân Sơn Nhất, hy sinh rồi mà vẫn giữ nguyên tư thế chiến đấu, Lê Anh Xuân gọi đó là “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ” của những con người “Sống hiên ngang bất khuất trên đời”. Các anh chính là linh hồn dân tộc, là sức mạnh của sông núi quê hương. Tố Hữu đã ví các anh là những “Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi”. Các anh là con của nhân dân, bình dị, khiêm tốn, gần gũi nhưng vĩ đại - cái vĩ đại của một thế hệ anh hùng. Tâm hồn và khí phách của các anh không chỉ làm nên một “Điện Biên chấn động địa cầu” mà còn làm cho cả nhân loại sửng sốt, thán phục. Đế quốc Mĩ thì kinh hoàng bởi một chiến dịch Hồ Chí Minh thần tốc! 30/4/1975, đế quốc Mĩ cút khỏi Việt Nam. Non sông thu về một mối. Cả dân tộc ca khúc khải hoàn. Lịch sử mãi mãi ghi khắc hình ảnh vĩ đại và công ơn trời biển của các anh - Anh bộ đội cụ Hồ.

          Cả dân tộc tôn vinh các anh, thế giới nghiêng mình trước các anh, nhân dân đời đời ghi nhớ, ca ngợi các anh...

          Thơ ca viết về các anh là vô cùng. Việc điểm lại một số hình ảnh thơ tiêu biểu trong bài viết này,  không nhằm ngoài mục đích tái hiện lại một phần nhỏ hình ảnh anh bộ đội qua hai cuộc trường chinh chống Pháp và chống Mĩ. Giữa cuộc sống thanh bình, hạnh phúc của hiện tại, chúng ta càng nhớ, càng biết ơn các anh - anh bộ đội cụ Hồ, người con yêu trong lòng của các thế hệ  nhân dân Việt Nam!

DƯƠNG THỦY, THÁNG 12 NĂM 2010

HẢI SINH

 






Tìm kiếm
Đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Bài viết mới nhất
Hình ảnh
Liên kết website

Quảng cáo

BẢN QUYỀN THUỘC VỀ PHÒNG GD VÀ ĐT LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 052.3882625 - Email:banbientap@lethuy.edu.vn
Developed by Phạm Xuân Cường - ĐT: 0912.037911 - Email: cuonggiaoduc@yahoo.com