Menu
THÔNG BÁO
Hỗ trợ trực tuyến
Lê Đình Đức
Lê Đình Đức
Admin
Phạm Xuân Cường
Phạm Xuân Cường
Developed
Thống kê truy cập
Số người đang online: 217
Số lượt truy cập: 45225364

Quảng cáo
Tâm sự cô giáo trẻ 19/11/2012 4:16:50 CH
Tháng 8 năm 2011, tôi có Quyết định về công tác tại trường TH & THCS Lâm Thủy. Thời gian tìm hiểu về trường quá ngắn nên có biết bao điều bỡ ngỡ, lạ lẫm cho một cô giáo trẻ như tôi. Tôi được phân công nhiệm vụ dạy ở bản lẽ Chút Mút của xã Lâm Thủy, nằm sát với biên giới Việt - Lào. Ngày đầu tiên khởi hành để đến điểm trường lẽ đã để lại trong tôi dấu ấn thật khó phai!

            Con đường lên Chút Mút ngày mưa sao mà trơn trượt thế. Đoạn bùn lầy ngập bánh xe, đoạn thì dốc cao bồng bềnh như đi trong mây. Xe tôi đi một đoạn lại ngã xuồng rồi lại đứng dậy tiếp tục cuộc hành trình. Chúng tôi cứ đi theo anh khu vực trưởng (là giáo viên đã dạy ở Chút Mút 2 năm học) mà không biết đích đến. Con đường cứ dài thăm thẳm như rừng sâu ngút ngàn cây lá. Bất chợt tôi nhớ lại hai câu thơ của nhà thơ Phạm Tiến Duật khi ông cùng đoàn quân đi trên tuyến đ­êng Trường Sơn huyền thoại


19_11_2012_LamThuy.jpg
Thầy cô giáo lên với bản Chút Mút


Anh đi trong rừng lá vỗ trên cao

Gió bốn bề cây ngã nghiêng chào

Cứ đi..đi mãi mặc cho con đường cứ lầy lội, bçng trước mắt tôi, một bản làng với những ngôi nhà sàn nhỏ, lẽ hiện ra. Đi sâu vào bản tôi cảm nhận được sự sống vẫn đang chuyển động ở một nơi rất xa này. Dân bản đón chúng tôi rất nồng nhiệt. Tôi thấy được niềm vui trong mắt các em khi biết có thầy, cô giáo là các em sắp được đến trường.

Ngôi trường ở một bản lẻ không rộng lắm. Tất cả là 5 phòng cho 5 lớp tiểu học và một lớp học mầm non, lớp ghép hai, ba và một lớp học ở nhà xây, còn lớp bốn và lớp năm đang học tạm ở hai căn nhà lá. Những ngày đầu mới lên, chúng tôi cố gắng nắm bắt tình hình học sinh, hoàn cảnh của từng em và phong tục tập quán ở đây. Miền núi có nhiều khe suối nên chỉ cần có một trận mưa to là nước suối dâng cao rất nguy hiểm, học sinh không qua suối được. Hạnh phúc lắm khi lớp học đông đủ, nhưng đó là điều hy hữu bởi thường xuyên có học sinh nghỉ học. Để khắc phục tình trạng này chúng tôi đã đến từng nhà thăm hỏi, động viên các em sang sông ở lại nhà bà con để đi học. Cuộc sống ở đây nhiều vất vả nên các em phải lao động quá sớm. Nhiều hôm có em phải nghỉ học ở nhà để gặt lúa, kéo gỗ, đi câu cá.giúp bố mẹ mà không đến lớp. Có những em phải đi bộ ba, bốn cây số mới đến trường. Nhiều hôm trời mưa không có áo mưa để mặc, ngồi trong lớp co rúm lại vì rét. Nhìn các em như những bông hoa rừng tinh khiết, ngây thơ thật đçi tội nghiệp càng khiến chúng tôi cố gắng nhiều hơn. Chúng tôi dạy cho các em những kiến thức cơ bản nhất theo sự chỉ đạo của nhà trường với phương châm để cho học sinh “được học” và “học được”, do điều kiện ở đây thiếu thông tin nên bài dạy luôn mang tính liên hệ thực tế. Học sinh nghỉ học thì chúng tôi phải dạy lại cho các em. Tôi không thể quên giờ lên lớp đầu tiên ấy. Đó là vào giờ luyện viết, lúc tôi đang hướng dẫn học sinh viết chữ thì bất chợt một câu hỏi vang lên “ Viết chữ thì để làm chi hả cô?” Câu hỏi ấy làm cho tôi thoáng chút bối rối và rồi sau vài giây suy nghĩ tôi viết lên bảng thật to, thật đậm “Nét chữ, nết người” Tôi đã giảng cho các em hiểu được ý nghĩa của câu nói ấy. Và giờ luyện viết đã diễn ra thật êm đẹp. Nhìn các em viết chữ thật say sưa, cái đầu nghiêng nghiêng theo từng nét chữ trông thật đáng yêu. Cứ như thế đến mỗi tiết luyện viết chẳng đợi tôi nhắc các em đã hào hứng “Cô ơi! luyện viết”

Một ngày dạy học khép lại là khung cảnh anh chị em cùng nhau chuẩn bị bữa cơm thật đÇm ấm. Đó là giây phút nghỉ ngơi thoải mái nhất, chúng tôi cùng cất cao tiếng hát, kể cho nhau nghe những câu chuyện vui buồn. Lên đây dạy học anh chị em lại càng yêu thương nhau nhiều hơn. Chúng tôi thương nhau từ con đường đi vất vả, từ những bữa cơm đạm bạc chỉ có canh khế và măng rừng. Đặc biệt là những lúc ốm trong điều kiện thuốc men ngặt nghèo. Chúng tôi đã gặp nhau ở tâm hồn đồng điệu, luôn tràn ngập niềm vui, cùng chung chí hướng. Con đường dài qua nhiều khe suối, leo lên nhiều sườn dốc, mồ hôi nhễ nhại mà tiếng hát vẫn vang lên giữa núi đồi, vi vút cùng gió rừng, tiếng thơ vẫn âm vang qua từng khe đá.

“Vượt sáu mươi cây đến bản nghèo

Đường đèo vượt dốc quá cheo leo

Thương đàn em nhỏ chưa biết chữ

Khổ cực bao lần quyết phải theo”

Sống hòa đồng với bà con dân bản và đáp lại tình cảm của chúng tôi là sự đùm bọc, thương yêu của bản làng. Tôi không thể quên những ngày mưa gió, chúng tôi không về được mà lương thực thì hết. Bà con người cho long gạo, người cho con cá. Trong tâm khảm của tôi mãi khắc sâu buổi chiều hôm ấy. Một buổi chiều ở vùng cao, gió lạnh đầu mùa đã về, ngoài trời vi vu cơn gió thổi, cây sung trước sân trường như sắt lại vì rét. Mới 5 giờ chiều mà ở trên vùng cao trời đã nhá nhem tối. Bỗng tôi nhìn thấy một học sinh lò dò đi vào sân trường, tay xách một cái giỏ. Tôi hỏi, tối rồi em đi đâu thế Mau? Nó nhìn tôi nhoẻn miệng cười, sau một hồi ấp úng, nó nói “Mẹ bảo, mưa gió thế này thầy, cô không có gì để ăn nên bảo em mang cá đến cho thầy cô”. Tôi cầm lấy cái giỏ bên trong có mấy con cá mà nước mắt rưng rưng. Một cảm giác buồn vui khó tả dấy lên trong tôi   “Rét thế này mà chị còn xuống khe mò cá, rét thế này mà đứa học trò chỉ mặc có một chiếc quần cộc. Tôi biết nhà chị nghèo lắm, mấy con cá này nếu chị để lại thì bữa cơm gia đình ấm lòng hơn, thế mà chị vẫn nghĩ đến chúng tôi. Tôi cứ nghĩ mãi của thì chẳng có bao nhiêu nhưng tình thì rất nặng. Tôi trút mấy con cá vào cái chậu, đưa cái giỏ lại cho em, cầm bàn tay lạnh băng của em, tôi nói “Cho thầy, cô gửi lời cảm ơn mẹ, Mau mai đi học nhé!” Cô bé khẽ gật đầu rồi nhoẻn miệng cười lao ra khỏi sân trường, chạy băng băng trong buổi sương chiều. Tôi nhìn các đồng nghiệp, từ ánh mắt của họ cũng như tôi toát lên một lời hứa thầm kín “ Phải làm gì đây để xứng đáng với tình yêu thương, đùm bọc của bà con bản làng”

Không hiểu sao mấy hôm nay cái máy phát điện không nổ được, tôi đành viết bài viết này dưới ngọn đèn dầu tù mù, bởi vậy tôi càng hiểu niềm mong mỏi của người dân ở đây là có ánh điện đến nhường nào. Thấy ánh mắt buồn của của các em trong căn nhà lá không có nhiều ánh sáng, các em lại đánh vật với các con chữ. Thương các em bị cận thị mà tôi chẳng biết làm thế nào. Các em tranh chấp từng tí ánh sáng của buổi chiều còn sót lại sau giờ học để chơi những trò chơi yêu thích. Và mỗi sớm thức dậy, khi màn sương còn bao phủ dày đặc tôi lại thấy một số em nhỏ đã dắt trâu ra đồi, mọi người lại tất bật vì công việc khi có ánh sáng. Thế đấy, tôi lại bắt đầu câu hỏi của ngày hôm qua khi tôi vừa đặt chân lên mảnh đất này. “ Xã hội thì đang phát triÓn vùn vụt mà vẫn còn những nơi phải sống trong lam lũ, trẻ em ăn cơm bốc từng nắm, mang những bộ quần áo tả tơi mặc cho trời cứ rét buốt, học sinh của tôi mới lớp năm mà phải đìu những bao lúa trên lưng nặng năm mươi ký làm cho dáng em oằn xuống vì quá nặng. Bao lâu nữa thì cuộc sống của các em đỡ khổ hơn để các em được vui chơi học hành như bao trẻ em bình thường khác. Và trong suy nghĩ của tôi, tôi tự trả lời và hứa với lòng mình “ Phải cho các em cái chữ, dạy cho các em biết chữ, biết làm người.” Bởi vì hơn ai hết chính các em những chủ nhân tương lai của đất nước, của quê hương mình sẽ tự xây nên cuộc sống, đẩy lùi nghèo nàn lạc hậu. Các em sẽ cùng mọi người trên quê hương mình cất lên tiếng hát, tiếng hát yêu đời, tiếng hát của hy vọng và niềm tin “ Mai em xây dựng một làng quê điện sáng, một con đường xe bon bon thẳng tắp, một ngôi trường ngói mới yên vui”. Và không ai khác, chính các thế hệ nhà giáo như chúng tôi là những người sẽ thắp sáng cho các em niềm hy vọng ấy với một niềm tin mãnh liệt trong tôi

Có người bảo đến nơi này không thíc

Đường nghẻn lối về qua những mùa mưa

Nhầm rồi đấy!

Đường từ đây là trăm nơi nối tiếp

Bốn phía mọc lên những chồi hoa trong nắng đung đưa!

Riêng đối với tôi, điểm đặt chân đầu tiên trên con đường dạy học là bản Chút Mút. Bản làng cũng chính là mối tình đầu của nghề giáo mà tôi đã chọn. Những khó khăn, buồn vui mà con người ở mảnh đất này đã gắn bó với tôi như một phần của tâm hồn. Đúng như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất bổng hóa tâm hồn”.

 

 

 

Chút Mút, tháng tư, năm 2012.

Trần Thị Lâm – GV Lâm Thủy


Tìm kiếm
Đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Bài viết mới nhất
Hình ảnh
Liên kết website

Quảng cáo

BẢN QUYỀN THUỘC VỀ PHÒNG GD VÀ ĐT LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 052.3882625 - Email:banbientap@lethuy.edu.vn
Developed by Phạm Xuân Cường - ĐT: 0912.037911 - Email: cuonggiaoduc@yahoo.com